Chuyện tâm linh có thật by me!

“ Có nhiều thứ trên thế gian này không giống với bề ngoài của nó. Khi chúng ta bị đánh lừa bởi vẻ bề ngoài thì quên đi cái tác hại của nó. Thật buồn là ông đã không nói được điều này sớm hơn với mọi người trong gia đình.”

Ông hít một hơi sâu, rồi lại thở dài.

***

Thái Bình là một miền quê nghèo, người ta vẫn mỉa mai nó với cái hình ảnh nhà máy cháo, dân thường thì tay gậy tay bị khắp nơi tung hoành với củ sắn củ khoai trong tay nải. Nhưng trong lịch sử chiến tranh miền Bắc không thể không nhắc đến sự hỗ trợ to lớn của mảnh đất này. Ngoài việc trở thành vựa thóc lớn của miền Bắc, Thái Bình còn có rất nhiều thanh thiếu niên và nhiều cán bộ tham gia vào cách mạng chống Mĩ cứu nước, không biết bao nhiều lần nơi đây bị lính Mĩ bỏ bom, người chết nhiều vô kể, xương trắng trải dài trên những cánh đồng heo hút.

Ở đây tôi cũng xin kể thêm về gia đình. Cụ nội tôi tên Tr – người gốc ở Thái Bình, cụ nổi tiếng là người tần tảo, hiền lành như cục đất, tuy có học nhưng cụ không tham lợi bổng lộc triều đình mà phần lớn dành thời gian canh tác cùng bà con. Nhà lúc đó giàu lắm, có thể nói là địa chủ trong làng. Căn nhà 5 gian lợp mái ngói đỏ au, bậc thềm tam cấp cao quá đầu đứa trẻ 5 tuổi cùng với mảnh sân rộng rãi trước nhà lát bằng loại đá đỏ của pháp, mỗi lần quét và dội nước lên là sáng bóng. Giàu thế phần lớn là nhờ cụ bà, cụ bà nổi tiếng ngoa ngoắt và đành hanh, tiền không ăn được của cụ một cắc, thóc không vét được của cụ một hạt. Gặp chuyện gì cụ bà cũng nhảy lên chân đứng tấn, hai tay vỗ đen đét vào hai bên đùi mà buông lời chửi đổng cả họ cái đứa vô phúc gây lộn với cụ. Thành ra cụ bòn rút không biết bao nhiêu tiền từ buôn bán. Độc địa là thế, cay nghiệt là thế nhưng cả nhà đều biết cụ bà làm như vậy là cho cái nhà này nó ăn nên làm gia để nuôi 7 cái tàu há mồm – 7 người con của cụ. Cụ Tr có 5 người con trai và 2 người con gái, người con cả là ông H chính là ông tôi. Ông tôi từ bé đã học chứ rất nhanh, giỏi văn và thơ nên sớm được giác ngộ cách mạng, được đưa vào ban giảng dạy trong quân ngũ. Còn lại 4 người con trai của ông cứ đến 18 là được nhà nước cho đi lính, về sau này còn vào tận trong Nam nhập ngũ. Cụ ở nhà thương và lo cho con cái cũng chỉ biết cầu trời khấn Phật cho tai qua nạn khỏi chứ chả biết trông mong vào đâu.

Năm 1962, ông tôi được về Quảng Ninh sinh sống và làm việc tại hội văn nghệ và gặp bà ở đó. 2 năm sau bác cả ra đời đặt tên là M. Nhưng người con còn lại của cụ Tr người thì trong Đồng Hới, Quảng Bình Quảng Ngãi, người đi tận vào trong Sài Gòn, lâu lâu cũng đánh tín về nhà hai ba dòng. Cụ Tr là người duy linh, hay đi chùa lễ bái cầu khấn để lấy may cầu phước cho gia đình, cụ bà cũng vậy. Người dương cầu may cho người dương, cầu an nghỉ cho người âm, linh nghiệm thì không biết, chỉ biết mỗi năm xác những thanh niên hy sinh vẫn được chuyền về trên trạm xá, la liệt trên cái nền sân rêu phong xám xịt chờ mai táng.

Khoảng những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mĩ, vùng đất Thái Bình có những chuyện kì quái xảy ra. Thường vào những ngày rằm tháng 7 tháng 8, người dân đi đêm hay gặp những bóng người kì quái, lảng vảng đi lại trên những cánh đồng giữa đêm khuya. Hồi đó có phiên chợ đêm họp ấn định vào mấy ngày trong tháng, nhằm tránh bị lính Mĩ phát giác và tấn công vào chỗ đông người. Thoạt nhiên những đêm trăng sáng, cả người mua và người bán không ít người nhận được lá cây, mảnh kim loại, nắm đất vụn khi về đến nhà. Họ cam đoan rằng mình đã nhận tiền nhưng khi dở nắm tiền ra thì bên trong toàn lá cây, đôi khi là một mảnh gỗ thơm hay củ sâm. Lâu dần người dân nơi đây mới hiểu được rằng, đó là thứ tiền của người âm chết không siêu thoát được, lai vãng ở nơi đây vì đói khát.

Chợ Âm Phủ mọc lên từ cái thuyết đó. Vào những đêm trăng sáng tỏ nhất, đặc biệt là rằm tháng 8, khi ánh sáng mờ đục có thể soi rõ người âm trong mắt người dương, thì người dân họp chợ. Thường được tổ chức gần gây đa của làng hay miếu thờ, nơi âm khí nặng nhất, người đi chợ thì mang theo tiền và nắm vàng mã, nhang khói. Người bán hàng thì mang vàng mã, diêm thuốc, đi bán và đặc biệt là học thường mang theo một con gà đen bên mình và một thau nước. Thau nước đó dùng để phân biệt tiền âm và tiền dương, tiền âm thì chìm còn tiền dương thì nổi. Đi chợ Âm Phủ không ai tính lỗ lãi, mà chỉ để gặp lại người âm, người quá cố của mình và lấy may. Cụ bà Tr cũng rất hay đi chợ âm phủ, cụ kể rằng đã gặp nhiều người đã khuất từ chiến trường miền Nam, hồn lưu lạc về quê nhà. Họ nói bằng cái thứ giọng của gió, vang vang sang sảng, ồm ồm và khô khan không cảm xúc.

Năm đó bác Cả về Thái Bình chơi đúng dịp cận rằm. Dĩ nhiên cụ Tr sẽ không để bác M đi chợ Âm Phủ vì ở đó rất nguy hiểm đối với người dương, không rõ lí do tại sao. Cụ ông có kể về chợ Âm Phủ trong bữa cơm trưa, nhưng không quên nhắc bác M. Như thường lệ, tối hôm Rằm tháng 8 đó, cụ bà Tr mặc lên người cái áo nâu xồng với cái quần lụa đen dài qua mắt cá trùm lên đôi guốc mộc, cổ đeo tràng hạt xá lị đen bóng, cắp cái thúng lên ngang hông, cụ thong thả mở cửa bước ra đường. Ánh trăng tháng 8 sáng quắc trên bầu trời đêm không một gợn mây, rọi lên con đường đất một dải bạc trắng mờ. Bầu không khí chiến tranh ảm đạm, ngột ngạt, ngây ngây mùi xác người vọng về từ trạm xá, mùi đốt đống rấm, mùi đất quê hòa trộn nên cái mùi thum thủm lợm giọng. Đường làng không chỉ có mình cụ, còn có nhiều người cũng đang rảo bước đi, loẹt quà loẹt quẹt tiếng dép Liên Xô trên đường Làng. Nếu đến sớm, họ có thể chọn chỗ tốt cạnh gốc đa mà dựng sạp, nơi dễ có người âm lai vãng nhất. Cụ ra đến đó lúc chợ còn chưa họp, nhưng đã tấp nập từ lâu. Âm dương lẫn lộn, cụ bà may mắn lấy được một chỗ cạnh gốc đa, nơi có ánh trăng chiếu vào, đối diện phía bên kia là cái miếu thờ thổ địa đã mục nát. Mở cái thúng xếp đồ ra mảnh vải xô, nào là vàng mã, hương khói, diêm, dầu hỏa… cụ vẫn không quên mang theo một cái thau bằng đồng. Cái giếng nằm phía sau cây đa, nơi không có bóng trăng chiếu vào cũng đang túm tụm 3 4 người lấy nước, khệ nệ bê chậu nước về đặt nhẹ xuống đất thì cụ giật nảy mình. Đứng trước mặt cụ là bác M, lúc đó chạc 6 tuổi đang mếu máo. Cẩn tắc vô áy náy, chắc do lúc đi vô tình cụ không đóng cửa nên bác M đã bỏ theo, trong làng cũng hay có trẻ con chơi đêm nên nhà không quản bác M, phần chắc cũng vì hứng thú với phiên chợ này. Nếu bỏ về bây giờ để đưa bác M về thì chắc chắn sẽ mất chỗ đẹp, cụ Tr bất đắc dĩ cho bác M ngồi lại bên mình, nghiến răng ken két chửi lẩm bẩm trong mồm không ra hơi. Bác M lầm lét ngồi bên cạnh chỉ biết xoa hai bàn tay đầy đất vào nhau mà rơm rớm nước mắt, sụt sùi.

Nếu bác nào muốn thêm phần thú vị thì bật bài Moonlight Sonate của Beethoven lên đọc cùng truyện sẽ thấy hay hơn nhiều

You may also like...